Ông Lê Đức Thúy bày tỏ quan điểm về chính sách kích cầu tại tọa đàm của Phòng thương mại châu Âu (Eurocham) sáng nay tại Hà Nội.
Cuộc khủng hoảng kinh tế gây hậu quả mạnh nhất trong
năm 2008 khi tốc độ tăng GDP giảm 25%, đến năm 2009 mức giảm dự kiến
giảm là 15-17%. Gói kích thích kinh tế được đưa ra khi Chính phủ nhận
thấy nguy cơ lạm phát đang giảm dần trong khi lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh đang cần được khuyến khích. Khoảng tháng 10/2008, Chính phủ
chuyển ưu tiên chính sách từ kiềm chế lạm phát sang kích thích phát
triển kinh tế. Dự kiến ban đầu gói kích thích kinh tế trị giá khoảng
145.000 tỷ đồng, tương đương 8 tỷ USD. Tuy nhiên, con số thực tế theo
chúng tôi thống kê chỉ khoảng 122.000 tỷ đồng, tức là khoảng 6,5 tỷ
USD.
Chính phủ không chi hết số tiền này trong năm 2009.
Theo tính toán, thực chi năm nay chỉ khoảng 100.000 tỷ đồng. Như vậy
vẫn còn khoảng 22.000 tỷ đồng vốn trung và dài hạn của gói kích cầu thứ
nhất được chi ra trong giai đoạn 2010 - 2011.
Cần khẳng định rằng, các quyết định về hỗ trợ kinh tế
trong gói kích thích kinh tế thứ nhất với tổng giá trị 122.000 tỷ đồng
đã và đang được thực hiện nghiêm túc, đúng với phạm vi, quy mô và thời
hạn như đã công bố.
 |
| Ông Lê Đức Thúy phát biểu tại tọa đàm sáng nay. Ảnh: Nhật Minh. |
Đến giờ phút này, Chính phủ không có ý định điều
chỉnh các quyết định ấy. Có nghĩa là gói hỗ trợ ngắn hạn sẽ chấm dứt
vào cuối năm 2009, chứ không phải sớm hơn như một số đề nghị là vào đầu
quý IV. Chính phủ cũng chưa đặt vấn đề kéo dài, mà gói hỗ trợ vốn dài
hạn sẽ tiếp tục thực hiện như thời hạn công bố. Việc miễn giảm thuế
cũng tương tự.
Giữa năm 2008 có ý kiến là khoảng 20% doanh nghiệp
Việt Nam sẽ phá sản, sẽ có ngân hàng đổ vỡ, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
Thực tế điều đó không xảy ra. Nguồn tài chính mà Chính phủ dành để cứu
ngân hàng và doanh nghiệp cũng không quá lớn. Tất nhiên đi về chi tiết,
ai đó có thể nói hỗ trợ lãi suất là cào bằng, cứu cả những doanh nghiệp
không đáng cứu, tạo ra thị trường không bình đẳng, không thống nhất...
Điều đó có phần đúng.
Nhìn ra thế giới, quá trình phục hồi đang diễn ra,
nhưng có khó khăn. Nhiều người cho rằng quá trình này sẽ không có khả
năng theo hình chữ V. Giáo sư Paul Krugman cho rằng, nó còn không được
theo hình chữ U, mà gần giống với logo của hãng Nike.... Gần đây có dấu
hiệu cho thấy tình hình không thuận lợi và có thể theo W, có thể có suy
thoái nhỏ rồi mới lên.
Trong nước, chúng tôi thấy phục hồi là khá ấn tượng
và tôi cho rằng theo hình chữ V. Phân tích sâu hơn có thể thấy rằng gói
kích cầu vừa qua đóng góp tích cực cho sự phục hồi đó. Như vậy nó đã
tạo ra nền tảng tăng trưởng bền vững sau cuộc khủng hoảng của kinh tế
thế giới chưa?
Câu hỏi hiện Chính phủ đặt ra và nhiều người quan tâm là liệu có nên có gói thứ hai?
Chính phủ đang phải cân nhắc, vì nếu chấm dứt các hỗ trợ mà kinh tế vẫn
tăng trưởng bền vững thì không cần tốn công sức và tiền của cho biện
pháp bổ sung. Nhưng câu hỏi đặt ra là khi kết thúc năm 2009, kinh tế
Việt Nam có thể tăng trưởng bền vững mà không cần hỗ trợ bổ sung hay
không. Tôi chưa nghe được câu trả lời nào có sức thuyết phục.
 |
| 'Tôi chưa nghe được câu trả lời nào có sức thuyết
phục về việc kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng bền vững mà không cần
hỗ trợ bổ sung sau gói kích cầu hay không". Ảnh: Nhật Minh. |
Cá
nhân tôi và những người mà tôi đã trao đổi chưa dám tin rằng tự thân
nền kinh tế đủ sức tự phục hồi mà không cần thêm sự hỗ trợ của Chính phủ,
tức là trở lại với chính sách bình thường. Đó là câu hỏi đặt ra trước
khi bàn đến hỗ trợ như thế nào. Cần giải đáp câu hỏi nền kinh tế có cần
một gói hỗ trợ nữa hay không.
Tôi cho rằng những biện pháp hiện nay chưa đủ, có thể
phải nghiên cứu các chính sách mới, như về tài khóa, tiền tệ... Không
có chính sách mới thì khó duy trì sự phục hồi bền vững của kinh tế Việt
Nam. Tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2010 có thể là 6,5% nhưng không
ai dám nói là những năm sau cũng tiếp tục tăng cao.
Chính phủ hiện cho rằng với mục tiêu tăng trưởng năm
tới dự kiến 6,5% sẽ không đơn giản để đạt được, vì đầu tư của doanh
nghiệp vẫn thấp, nguồn tín dụng năm nay tăng mạnh chỉ nhờ hỗ trợ lãi
suất. Hỗ trợ năm nay là 4%, do đó nếu không được hỗ trợ, doanh nghiệp
phải vay với lãi suất tăng thêm 60% so với hiện nay. Trần lãi suất sẽ
từ 6,5% lên 10,5%.
Vậy doanh nghiệp sẽ thích ứng như thế nào với việc
lãi suất vay vốn tăng lên? Bao nhiêu doanh nghiệp chịu được để tiếp tục
kinh doanh, hay bao nhiêu doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất? Đến nay
chưa có nghiên cứu thấu đáo nào để trả lời câu hỏi đó, nhưng đó là vấn
đề rất nghiêm túc đối với người quyết định chính sách.
Tăng trưởng tín dụng đạt 30% so với cuối năm ngoái,
và đến cuối năm khoảng 35%. Đó là tỷ lệ tương đối cao, đứng thứ hai
trong nhiều năm qua, bởi năm 2007 là gần 54%. Nhưng việc tăng tín dụng
trong bối cảnh đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình
giảm. Tiêu dùng hộ gia đình trong 6 tháng đầu năm nay giảm 5%, nên tổng
cầu của xã hội tăng không cao, và lạm phát năm 2009 nhiều khả năng dưới
7%.
Năm 2010 cũng chưa có khả năng lạm phát tăng cao trở
lại vì cầu trong nước vẫn yếu và phục hồi kinh tế chậm chạp, nên yếu tố
do chi phí đẩy không tăng cao. Do thế tôi cho rằng lạm phát cao năm
2010 khó xảy ra, mà sẽ là muộn hơn.